Trầm tích Thăng Long

Ai về xứ Bắc ta theo với
Thăm lại non sông giống Lạc Hồng
Từ độ mang gươm đi mở cõi
Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long

Thật là khập khiễng và hết sức điên rồ khi so sánh mình với Thi tướng Huỳnh Văn Nghệ, nhưng cũng phải công nhận một điều rằng tôi có vài điểm giống ông. Ông là một danh tướng lừng danh, thanh gươm yên ngựa dọc ngang dãy đất miền Đông, từ Tân Uyên-Biên Hòa đến Sài Gòn – Chợ Lớn, lập nên bao chiến công khiến giặc Pháp khiếp sợ.

Tuy là một vị tướng nhưng ông cũng là một nhà thơ, những tác phẩm của ông đau đáu nói về nỗi đau mất nước cùng một mong ước hòa bình dân tộc, nỗi niềm của một người đang trong tối hướng về vầng sáng phương Bắc với tất cả các thiết tha mong đợi.
Hehe, tôi giống ông ở chỗ tôi cũng là lính (dù là lính quèn). Tôi cũng tập tễnh gieo vần làm thơ, cũng lê bước chân lãng tử đi khắp nơi nhưng tôi hơn ông ở chỗ tôi đi được hết rẻo đất hình chữ S này.

Trong các vùng đất tôi đi qua và dừng chân thì có lẽ Hà Nội là nơi để lại cho tôi nhiều tâm trạng nhất. Cái tâm trạng bực bội về sự hỗn độn và xô bồ của một đô thị “đang” lớn trong một kỳ vọng “quá” lớn. Sự sắp xếp về tất cả các hình thái xã hội đang ở giai đoạn nửa chuyển giao nửa hoàn thành đã làm cho Hà Nội trở thành một “đại công trường” với những “nhân công” đa trình độ và đa tư cách.
Chính những điều này làm những lữ khách như tôi cảm thấy không vui và bất an cho túi tiền còm cõi và bản thân cô độc nơi này. Tâm sự với người về những điều này thì được đáp lại hết sức dịu dàng và nhẹ như hơi thở rằng: “Đó không phải là Hà Nội chính gốc đâu anh!”. Nỗi bâng khuâng đất khách của tôi về cái gọi là “Hà Nội chính gốc” đã khiến tôi phải tìm hiểu về nghĩa đen của nó bằng mục tận sở thị, bằng mắt thấy tai nghe, bằng trực quan sinh động, bằng trò chuyện trực tiếp… chứ không phải qua văn thơ như trước đây.

Khi tôi nói điều này với Số Một, một trung niên xếp trên tôi về vị trí công việc, (nói đại là sếp tôi đi, vì viết về một nơi được gọi là cái nôi văn hóa của dân tộc nên phải văn hoa chút, chứ tôi ghét viết hàn lâm như thế này lắm) thì cũng được gợi ý một cách nhẹ nhàng: “Em sẽ cho anh đi gặp một người Hà Nội chính gốc”.
Hăm hở vui mừng xen lẫn trong tò mò thích thú, tôi đã đến gặp người Hà Nội chính gốc cùng với Số Một trong chiều Đại Lễ Ngàn Năm tưng bừng, náo nhiệt. Chưa bao giờ tôi lại có cảm giác “lạ” như thế, lạ ở chỗ tôi lại thấy “quen thuộc” ở một không gian lạ. Cái không gian có “…ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó…”, căn nhà nhỏ phải đi qua một ngõ nhỏ nằm trên phố nhỏ Hàng Gai, một lão niên đã trải lòng mình cho tôi về những trăn trở những tâm tình những hoài niệm về một Hà Nội xa xưa, cái thời mà “…ta đánh giặc trên mâm pháo…”. Cũng như cái nhức nhối về một Hà Nội xô bồ hỗn độn chật chội với hơn 6 triệu dân hôm nay, cái nỗi niềm về một “…Hà Nội cái gì cũng rẻ, chỉ có đắt nhất tình người thôi…”.

Tôi chợt thấy nhẹ lòng sau hơn 2 giờ đàm đạo, cái hiếu khách của người Hà Nội chính gốc, sự ân cần không thể hơn được của lão niên ấy và gia quyến càng thôi thúc tôi tìm hiểu về những cái tốt đẹp ở phía dưới những cái hỗn độn theo dòng phát triển thời cuộc kia.
Tôi không phải là nhà khảo cổ học và những cái tôi phát hiện cũng không thể gọi là di vật nhưng tôi không biết cách gọi nào hơn bằng cái tên Trầm Tích Thăng Long. Tôi muốn khai quật cái trầm tích này để trả lại cho Hà Nội cái đẹp tâm hồn thanh lịch và sang trọng mà nó đã có và đã tự hào.

Người Hà Nội chính gốc, con gái Hà Nội chính gốc sẽ dịu dàng hỏi: “Anh thích ăn chả cá không?” thay vì hỏi “Anh ăn cơm chưa?” giống như trong miền Nam. Người ta sẽ tìm cách làm cho bạn cảm thấy thân thuộc như ở nhà mình, như một người thân của họ vừa mới đi xa trở về chứ không phải bạn từ nơi khác đến. Cách xử sự đó làm cho bạn không thể nào quên được họ.

Các quán cafe nhỏ như quán Chuồn Chuồn, hoặc cái quán mà phải trải chiếu để ngồi – tiếc thật khi tôi không nhớ được tên, những cuộc chuyện trò không rôm rả như ở Sài Gòn náo nhiệt mà cứ thủ tha thủ thỉ như một lời tâm tình khiến cho lòng bạn lúc nào cũng cảm thấy nhẹ nhàng. Đó là cái mà chỉ có người Hà Nội chính gốc mới có thể cho bạn được, nhẹ nhàng trả lời, tế nhị câu hỏi, hung hăng trong khuôn phép, dữ tợn trong thanh cao. Ôi những cô gái Hà Nội!

Khu Láng – Hòa Lạc hay khu Trung Hòa – Nhân Chính có được xem như là Hà Nội hay không, tuy theo bản đồ hành chính thì thuộc về Hà Nội. Người Hà Nội chính gốc kể rằng, đó là ngoại ô, người Hà Nội thì quẩn quanh nơi 36 phố phường. Ngay cả văn hóa trong ăn uống  và vị thế tranh luận cũng khác nhau, điều này thật lạ vì từ phồ cổ đến 2 nơi ấy không quá 10 cây số, mà đã hình thành 2 phong thái khác nhau. Không chê khen, không bình phẩm, tôi bắt đầu “thấm” cái hồn Hà Nội qua chiếc vòng ngọc màu xanh trên cổ tay một cô gái – nó dung dị nhưng thanh khiết quá!

Hồn phố đã không còn như xưa, có chăng còn sót lại một Ô Quan Chưởng. Người Hà Nội chính gốc đã kể cho tôi nghe về một Ô Quan Chưởng sống động và rành mạch như nó mới hôm nào. Năm cửa ô giờ chỉ còn lại nó, một chứng nhân cho lịch sử về hồn phố và hồn người Hà Nội. Lặn lội đi tìm mùi hoa sữa năm xưa để cảm nhận được cái khung  cảnh “…hoa sữa thôi rơi, em bên tôi một chiều tan lớp…”, nhưng không thấy được chỉ thấy khói bụi, tiếng xe cộ của đông đúc phố phường.

Món ăn ưa thích của tôi tại Hà Nội là chả cá mà phải là chả cá Lã Vọng, tôi yêu cái mùi ngai ngái của thìa là khi bỏ vào chả cá. Tôi từng ăn nhiều món cá nhưng đây là món cá ngon nhất mà tôi từng biết, tuy phục vụ có phần…(kiểm duyệt) nhưng những người Hà Nội đi cùng đã làm mất đi cái phần bị kiểm duyệt kia, nó làm ta tập trung vào Đệ Nhất Khoái theo đúng nghĩa thưởng ngoạn của nó. Hãy thử một lần ăn chả cá với người Hà Nội chính gốc, bạn sẽ không bao giờ quên. Sự giải thích cặn kẽ của nguồn gốc món ăn, cách thức ăn, lý do vì sao phải thêm gia vị này nọ làm cho món ăn này không còn là đơn thuần ẩm thực mà là một văn hóa, một biểu trưng cho những cái tồn tại mãi với thời gian.

Vậy đó, cũng giống như Hoàng Thành Thăng Long, gần làng hoa Ngọc Hà (tôi yêu nơi đó lắm, hết sức yên lành và trong trẻo), các trầm tích Hà Nội phải khai quật lên mới thấy được cả một quá trình hình thành và phát triển, để rồi lặng yên chiêm ngưỡng một cách khâm phục, để cái thi vị và hồn hậu của người Hà Nội “…mộc mạc thôi mà sao tôi bồi hồi, mộc mạc thôi mà bâng khuâng nhớ mãi…”, dần dần thấm vào ta như một men rượu quý được chôn cất từ ngàn năm.

Hà Nội vẫn vậy, vẫn đúng bản chất thật của nó, cái bè nổi mà chúng ta gặp và bực bội chỉ là vì chúng ta đang kỳ vọng quá đáng về một thế hệ đó thôi.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s